Hoa đào: cách trồng, chăm sóc và tuốt lá cho đào nở đúng Tết
Prunus persica · Peach
LưuHoa đào (Prunus persica) là loài cây gỗ nhỏ rụng lá thuộc họ Hoa hồng, nở vào cuối đông - đầu xuân và là loài hoa Tết đặc trưng của miền Bắc Việt Nam. Từ xa xưa, mỗi khi Tết đến, nhà nhà ở miền Bắc dù thiếu thốn vẫn dành dụm mua một cành đào về trưng trong nhà. Cùng iuHoa tìm hiểu loài hoa này và cách tự trồng một cây đào nở đúng Tết.
Thông tin nhanh về hoa đào
- Tên khoa học
- Prunus persica
- Tên gọi khác
- cây đào, đào cảnh
- Tên tiếng Anh
- Peach
- Họ
- Hoa hồng (Rosaceae)
- Nguồn gốc
- Trung Quốc; nay trồng rộng rãi ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới
- Loại cây
- Cây gỗ nhỏ rụng lá, thường cao 3-4 m (hiếm khi tới 10 m); đào cảnh được tạo dáng thấp hơn
- Mùa hoa
- Cuối đông - đầu xuân, chơi dịp Tết ở miền Bắc
- Màu hoa
- Trắng, hồng phớt, hồng đậm, đỏ thắm; cánh đơn hoặc cánh kép
- Ánh sáng
- Ưa nắng, 6-8 giờ mỗi ngày
- Tưới nước
- Giữ ẩm vừa phải; chịu hạn khá, chịu úng kém
- Đất trồng
- Tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước tốt, hơi chua (pH khoảng 5,5-6,5)
- Nhân giống
- Ghép (phổ biến nhất), giâm cành, gieo hạt
- Độ khó
- Trung bình - cần mùa lạnh để ra hoa, phải canh thời điểm tuốt lá
- Ý nghĩa
- Mùa xuân, may mắn, sum vầy ngày Tết
- Độc tính
- Nhân hạt, lá và vỏ cây chứa amygdalin, có thể sinh xyanua - không ăn hạt, không tự dùng làm thuốc
Nội dung bài viết
Tên gọi, nguồn gốc của giống hoa đào
Hoa đào có tên tiếng Anh là peach, danh pháp khoa học là Prunus persica, thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) - cùng họ với mận, mơ, anh đào. Cây đào được thuần hoá và trồng ở Trung Quốc từ thời kỳ đồ đá mới, sau đó theo con đường thương mại tới Ba Tư (Iran ngày nay) rồi sang châu Âu; tên loài persica (“của Ba Tư”) có gốc từ đó.
Ở Việt Nam, người ta trồng đào từ lâu, cả để ăn quả lẫn chơi hoa. Đào phai - cánh mỏng, màu hồng nhạt - dễ trồng và sức sống mạnh; vùng núi Tây Bắc như Sa Pa (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La) nổi tiếng với những rừng đào phai nở trắng hồng mỗi độ xuân về.
Đặc điểm thực vật của hoa đào
Thân cây
Đào là cây thân gỗ nhỏ, thường cao 3-4 m, hiếm khi tới 10 m; đào trồng chậu, đào thế được cắt tỉa thấp hơn nhiều. Thân phân nhánh nhiều, vỏ màu nâu xám, xù xì; cây trồng lâu năm có gốc khá lớn. Đào có bộ rễ cọc ăn sâu nên chịu hạn tốt nhưng chịu úng kém - đây là lý do đào trồng nơi trũng, đọng nước hay bị thối rễ, rụng nụ.
Cây đào trưởng thành nở hoa đầu xuân - Ảnh: Andrea Pavanello, CC BY-SA 3.0 it, Wikimedia Commons
Hoa đào
Hoa đào nở vào cuối đông - đầu xuân, thường trước khi cây ra lá mới. Hoa có hai dạng: cánh đơn (5 cánh) và cánh kép (nhiều lớp cánh). Mỗi bông có đường kính khoảng 2-4 cm, nhị vàng ở giữa, màu từ trắng, hồng phớt tới hồng đậm, đỏ thắm tuỳ giống.
Hoa đào cánh đơn - Ảnh: Dennis Brown, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Lá đào
Đào là cây rụng lá theo mùa. Lá hình mũi mác, dài khoảng 7-15 cm, rộng 2-3 cm, mép có răng cưa nhỏ, mặt dưới gân nổi rõ. Vốn gốc ôn đới - cận nhiệt đới, bộ lá đào thay đổi theo bốn mùa: xuân ra lộc, hè lá phát triển, thu lá vàng, đông lá rụng. Trong thời gian cây còn lá phải giữ lá xanh tốt để cây tích luỹ dinh dưỡng nuôi cành và tạo mầm hoa; lá rụng là lúc mầm hoa bước vào giai đoạn cuối.
Quả đào
Đào chơi hoa thường cho hoa to, màu đẹp nhưng quả nhỏ, chát, không ăn được; ngược lại, đào trồng lấy quả cho quả to, thịt trắng hoặc vàng, ngọt và thơm. Quả có một hạt bọc trong lớp vỏ gỗ cứng. Theo cách tách hạt, đào được chia thành đào hạt rời (thịt dễ tách khỏi hạt) và đào hạt dính.
Quả đào bổ đôi, hạt nằm trong lớp vỏ gỗ cứng - Ảnh: Jack Dykinga, USDA, phạm vi công cộng, Wikimedia Commons
Phân loại các loại cây đào
Đào có rất nhiều giống được chọn tạo để lấy quả hoặc chơi hoa. Ở Việt Nam phổ biến nhất là đào bích, đào phai, đào thất thốn, đào đá (đào mốc) và bạch đào.
Đào bích
Bích đào có nhiều loại: hoa hồng thắm, hoa đỏ, hoa trắng, bích đào lá tím, bích đào cành rũ… Hoa đơn hoặc kép, cánh dày, màu thắm, lâu tàn và hầu như không đậu quả. Đây là loại đào đẹp nổi tiếng, được nhiều người ưa thích nhất - phổ biến là đào bích tán rộng, hoa kép đỏ thắm rải đều khắp các cành, kể cả những cành tăm nhỏ. Bích đào có thể trồng chậu lớn, cắt cành to cắm lọ trong phòng khách, hoặc cành nhỏ - gọi là đào tăm - cắm trên bàn thờ tổ tiên ngày Tết.
Đào cánh kép hồng thắm - Ảnh: Alto Clef, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Đào thất thốn
Đào thất thốn dáng nhỏ, chỉ cao chừng 1 m, gốc xù xì, mốc meo, thân rắn rỏi; vào mùa đông trông như gốc củi mục. Hoa có hai màu chính: nhung đỏ (hoa kép) và hồng phai (hoa đơn), nhị vàng tươi, thơm thoang thoảng. Những bông kép có thể có vài chục cánh, khi tàn thường không rụng lả tả như các giống đào khác mà vẫn giữ trên đài hoa. Hoa mọc thành chùm, bông nở trước có thể nở trùm lên những nụ khác.
Đào phai
Giống đào này có hoa màu nhạt, phơn phớt hồng - vì thế gọi là đào phai - có loại cánh đơn, có loại cánh kép, trông mỏng manh và thanh nhã. Đào phai cũng gồm cả loại trồng lấy quả (đào rừng): hoa đơn năm cánh, phớt hồng, dáng vẻ tự nhiên khoẻ khoắn. Những cành đào phai từ Mộc Châu, Sơn La thường được mang về xuôi chơi Tết.
Đào đá, đào mốc
Đào đá là đào mọc lâu năm ở vùng núi cao, quanh năm mây phủ, nên thân xù xì, cành to khoẻ, nhiều rêu và thực vật bám trên thân tạo hình thù lạ mắt - vì thế còn gọi là đào mốc. Đào đá thường ít hoa hơn đào đồng bằng, hoa to, năm cánh đơn. Nhu cầu chơi đào mốc ngày Tết tăng lên khiến đào ở các huyện vùng cao ngày càng hiếm.
Bạch đào
Bạch đào là đào hoa trắng, giống khá hiếm và khó trồng; thường được ghép trên gốc đào bích hoặc đào phai. Hoa to, cánh kép, trắng tinh khôi, ít hoa hơn các giống khác.
Hoa đào trắng - Ảnh: CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Ý nghĩa của loài hoa đào
Với người miền Bắc, Tết chưa thấy cành đào là chưa thấy xuân. Theo quan niệm dân gian, hoa đào tượng trưng cho may mắn, suôn sẻ, hạnh phúc và sự sum vầy của gia đình khi mọi người quây quần đón năm mới; cành đào còn được tin là xua đuổi điều xấu, mang lại bình an. Vẻ đẹp của hoa đào cũng thường được ví với nét dịu dàng, e ấp của người con gái. Nếu miền Bắc có đào thì miền Nam chuộng mai vàng; ngoài ra, ngày Tết còn có cúc đại đóa, hoa thủy tiên hay địa lan - những loài hoa Tết quen thuộc khác.
Cành đào nở dịp Tết ở quận Thanh Xuân, Hà Nội - Ảnh: Vinataba, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Đào trong y học cổ truyền. Đông y dùng nhân hạt đào (vị “đào nhân”) và một số bộ phận khác của cây làm vị thuốc. Tuy vậy, nhân hạt, lá và vỏ cây đào chứa amygdalin - chất có thể phân giải thành xyanua gây ngộ độc. Không ăn hạt đào và không tự sắc lá, hạt, vỏ đào để uống; mọi việc dùng làm thuốc cần hỏi ý kiến bác sĩ hoặc thầy thuốc có chuyên môn.
Cách trồng hoa đào phổ biến nhất cho ngày Tết
Hoa đào được nhân giống bằng gieo hạt, ghép cành và giâm cành. Gieo hạt tốn nhiều thời gian và cây con không giữ được đặc điểm của cây mẹ, nên người trồng đào cảnh chủ yếu dùng ghép và giâm cành.
Phương pháp ghép cành
Lựa chọn cành ghép: chọn cành khoẻ, không sâu bệnh, khoảng 1 năm tuổi để cây sau ghép phát triển tốt.
Ghép áp
- Cắt đoạn cành ghép dài 6-10 cm, bỏ phần ngọn và mầm yếu, giữ lại 2-3 mắt.
- Chọn đoạn thân gốc ghép trơn nhẵn, dùng dao cắt nghiêng lên trên một vết khoảng 1/3 lớp gỗ, nghiêng 45 độ như vết cắt trên cành ghép.
- Áp mặt cắt dài của cành ghép vào vết cắt trên gốc, quấn chặt bằng dây ni lông chuyên dùng để ghép.
Ghép mắt nhỏ có gỗ
- Chọn vị trí ghép trên gốc ở độ cao khoảng 20-25 cm so với mặt đất.
- Lấy mắt ghép kèm một lớp gỗ mỏng, cắt vết trên gốc vừa bằng kích thước mắt ghép, cách mắt dưới khoảng 0,5 cm.
- Đặt mắt ghép vào gốc rồi quấn chặt bằng dây ni lông để cố định.
Mắt ghép có gỗ (chip budding) trên cây táo - đào ghép theo cùng cách. Ảnh: Thue, CC0, Wikimedia Commons
Sau khoảng 2-4 tuần, mắt ghép bật mầm thì có thể cắt tháo dây buộc.
Phương pháp giâm cành
Chọn cành giâm: với cây gỗ rụng lá như đào, nên lấy cành giâm khi cây bước vào thời kỳ nghỉ (thu - đông). Chọn hom bánh tẻ dài khoảng 15-20 cm, cắt vát đầu dưới để tăng diện tích tiếp xúc với giá thể, giúp hom nhanh ra rễ.
Cắt và bảo quản hom: cắt vào ngày râm mát hoặc sáng sớm, chiều mát. Cắt xong phun nước, cắm đứng vào xô có nước sâu khoảng 5 cm và che kín; có thể cắt bớt một phần phiến lá để giảm thoát hơi nước. Tốt nhất là giâm ngay; nếu chưa giâm được, quấn hom trong khăn ẩm và để nơi thoáng mát.
Xử lý hom: để hom ra rễ nhanh hơn, có thể nhúng gốc hom vào thuốc kích thích ra rễ (nhóm auxin như IBA, NAA) theo đúng liều lượng ghi trên bao bì.
Giá thể và cách giâm: dùng đất pha cát thoát nước, sạch mầm bệnh; nếu giâm thẳng vào bầu thì dùng đất thịt nhẹ trộn phân lân. Cắm hom nghiêng, sâu khoảng 1/3 chiều dài hom, xếp bầu thành luống và che nắng.
Chăm sóc sau khi giâm
Phun sương giữ ẩm bề mặt lá thường xuyên để hom không bị mất nước, rụng lá. Khi hom ra đủ rễ và có một đợt lộc mới ổn định thì mới ra ngôi, chuyển sang chậu hoặc vườn. Giai đoạn từ khi giâm tới khi ra rễ nên để trong nhà giâm hoặc nơi có mái che; chọn ngày thời tiết dịu để ra ngôi.
Kỹ thuật trồng cây hoa đào ngày Tết
Sau khi có cây giống, bạn trồng vào chậu hoặc ngoài vườn. Muốn cây ra hoa đúng dịp Tết Nguyên Đán, cần lưu ý mấy việc sau.
Chợ hoa đào Tết trên đường Lê Lai, quận 1, TP.HCM - Ảnh: trungydang, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Đảo cây đào
Thời gian thường dùng để đảo (hãm) cây đào là khoảng tháng 7 - tháng 8 âm lịch. Đào quanh gốc lấy bầu khoảng 20-30 cm rồi đặt lại vào hố, lấp chặt đất như khi mới trồng; việc cắt bớt rễ giúp cây chậm sinh trưởng và chuyển sang phân hoá mầm hoa. Nên đảo cây vào ngày khô ráo.
Tuốt lá
Tuốt lá là bước quyết định để đào nở đúng Tết. Người trồng đào miền Bắc thường tuốt lá khoảng 40-60 ngày trước Tết, tuỳ giống và thời tiết năm đó: năm rét đậm tuốt sớm hơn, năm ấm tuốt muộn hơn. Tuốt bằng tay, tuốt hết lá trên các cành.
Bón phân
Sau khi tuốt lá, bón bổ sung phân (ưu tiên phân giàu lân, kali) để nuôi nụ, giúp hoa nở sai và bền màu.
Điều chỉnh để hoa nở đúng Tết
Theo kinh nghiệm của người trồng, khi nụ có vẻ chậm nở có thể tưới nước ấm để kích thích; khi nụ nở sớm trong lúc trời ấm thì tưới nước lạnh, che bớt nắng để kìm hoa lại. Đây là kinh nghiệm dân gian, hiệu quả tuỳ cây và thời tiết.
Điều kiện ngoại cảnh giúp hoa đào phát triển tốt nhất
Nhiệt độ
Đào sinh trưởng tốt ở khoảng 20-30 độ C, nhưng cần một mùa lạnh để phân hoá mầm hoa: phần lớn giống đào cần khoảng 600-1.000 giờ lạnh ở 4-10 độ C. Đây là lý do đào nở đẹp ở miền Bắc và vùng núi, còn ở miền Nam nóng quanh năm thì khó ra hoa. Hoa đang nở cũng dễ hỏng khi gặp rét đậm, sương muối.
Lượng mưa và độ ẩm
Cây phát triển bình thường ở nơi có lượng mưa khoảng 1.250-1.500 mm mỗi năm, độ ẩm không khí khoảng 80-85%, độ ẩm đất 60-70%. Độ ẩm quá cao kéo dài làm cây dễ nhiễm nấm bệnh.
Ánh sáng
Đào là cây ưa sáng, cần nắng khoảng 6-8 giờ mỗi ngày. Thiếu sáng, cây sinh trưởng kém, cành vống, ra hoa chậm, dễ rụng nụ, màu hoa nhợt nhạt.
Đất trồng
Đào chịu được đất xấu, đất dốc, mọc được trên đất đỏ vàng, đất cát pha sỏi; tốt nhất là đất tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước tốt, hơi chua (pH khoảng 5,5-6,5). Tránh nơi trũng, đọng nước.
Gợi ý đọc thêm
- Cúc đại đóa: đặc điểm, ý nghĩa ngày Tết, cách giâm cành.
- Địa lan: đặc điểm, các loại địa lan chơi Tết, ý nghĩa, cách trồng, giá thể, tưới.
- Nhất chi mai: nguồn gốc, đặc điểm, phân biệt với mai vàng, cách chăm sóc, cắt tỉa.
- Lan quân tử: đặc điểm, ý nghĩa, độc tính, cách gieo hạt, tách cây, chăm sóc.
