Hoa dành dành (bạch thiên hương): cách trồng, chăm sóc
Gardenia jasminoides · Gardenia, Cape jasmine
LưuDành dành (Gardenia jasminoides), còn gọi là bạch thiên hương, chi tử, lài lá lớn, là cây bụi hoa trắng nổi tiếng với hương thơm ngào ngạt, nhất là vào buổi tối. Đây là loài cây bản địa của Việt Nam, dễ trồng nhưng có vài “tính nết” riêng: ưa đất hơi chua, sợ úng và không thích nắng gắt cả ngày. Bài viết giúp bạn hiểu rõ loài hoa này và cách trồng, chăm sóc để cây ra hoa sai, lá xanh bóng.
Thông tin nhanh về dành dành
- Tên khoa học
- Gardenia jasminoides
- Tên gọi khác
- bạch thiên hương (dành dành kép), chi tử, lài lá lớn, thủy hoàng chi
- Tên tiếng Anh
- Gardenia, Cape jasmine
- Họ
- Cà phê (Rubiaceae)
- Nguồn gốc
- Mọc hoang ở Việt Nam, Nam Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và nhiều nước châu Á
- Loại cây
- Cây bụi thân gỗ thường xanh, cao 0,3-3 m, lá mọc đối xanh bóng
- Mùa hoa
- Rộ khoảng tháng 3 - tháng 6; quả chín vàng cam vào thu
- Màu hoa
- Trắng, ngả vàng kem khi sắp tàn; hoa đơn 6 cánh hoặc hoa kép nhiều lớp; rất thơm
- Ánh sáng
- Nắng sáng 4-6 giờ mỗi ngày - che bớt nắng gắt buổi chiều mùa hè
- Tưới nước
- Giữ đất ẩm đều nhưng không úng - tưới khi mặt đất se
- Đất trồng
- Tơi xốp, giàu mùn, hơi chua (pH khoảng 5-6,5), thoát nước tốt
- Nhân giống
- Giâm cành (phổ biến nhất), chiết cành, gieo hạt
- Độ khó
- Trung bình - dễ sống nhưng kén đất chua và sợ úng
- Ý nghĩa
- Sự trong sáng, thuần khiết, tình yêu dịu dàng
- Độc tính
- Độc nhẹ với chó, mèo, ngựa (ASPCA) - để xa thú cưng
Nội dung bài viết
Dành dành và bạch thiên hương có phải là một?
Có. Bạch thiên hương và dành dành là cùng một loài. Trong giới chơi hoa ở Việt Nam, tên “bạch thiên hương” thường dùng để gọi riêng dành dành kép - giống có nhiều lớp cánh, trông như một đóa hồng trắng nhỏ. Còn “dành dành” là tên chung, thường chỉ dạng hoa đơn 6 cánh xoay như chong chóng. Dù hoa đơn hay kép, lá cây và mùi thơm đều giống nhau.
Một số nơi gọi dành dành là “trà mi” vì bông kép trông giống hoa trà mi, nhưng đây là hai loài khác nhau: trà mi thuộc họ Chè, còn dành dành thuộc họ Cà phê (Rubiaceae).
Bụi dành dành hoa đơn mọc hoang ở Nhật Bản - Ảnh: Alpsdake, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Đặc điểm của cây dành dành
Thân và lá
Dành dành là cây bụi thân gỗ, thường xanh quanh năm. Cây hoang dã cao khoảng 0,3-3 m; cây trồng chậu thường chỉ 1-1,5 m. Thân màu nâu xám, phân nhiều nhánh từ gốc. Lá mọc đối, cuống rất ngắn, phiến lá xanh đậm, bóng như phủ sáp - kể cả khi không có hoa, cây vẫn đẹp.
Hoa
Hoa mọc đơn lẻ ở đầu cành hoặc nách lá, to khoảng 5-8 cm, màu trắng tinh khi mới nở rồi ngả vàng kem khi sắp tàn. Hoa đơn có khoảng 6 cánh xếp xoắn như chong chóng; hoa kép (bạch thiên hương) có nhiều lớp cánh dày. Hương dành dành rất đậm, ngọt, tỏa mạnh nhất về tối. Trong điều kiện mát mẻ, mỗi bông giữ được vài ngày tới một tuần.
Hoa dành dành đơn ngả vàng kem khi sắp tàn - Ảnh: M108t, CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Quả
Quả hình trứng, có 5-8 gờ chạy dọc, đỉnh còn giữ đài hoa như chiếc vương miện nhỏ. Quả chín màu vàng cam, bên trong nhiều hạt. Hoa thường rộ khoảng tháng 3 đến tháng 6, quả chín vào mùa thu. Dạng hoa đơn đậu quả nhiều; dạng kép hầu như không có quả.
Quả dành dành - Ảnh: Naokijp, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Phân bố và câu chuyện tên gọi
Dành dành mọc hoang ở Việt Nam, miền Nam Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Myanmar, Ấn Độ, Bangladesh…, thường gặp ven suối, trong rừng thưa và vùng đồi núi. Ở Trung Quốc, loài hoa này đã được trồng và vẽ trong tranh từ thời Tống, Nguyên, Minh.
Cái tên khoa học Gardenia jasminoides có một câu chuyện thú vị:
- Đầu thế kỷ 18, nhà thực vật học gốc Đức Georg Rumphius ghi nhận dành dành là cây cảnh ở đảo Ambon (Indonesia) trong bộ sách Herbarium Amboinense.
- Năm 1744, thuyền trưởng William Hutchinson mang cây từ vùng Cape (Nam Phi) về Anh, tặng nhà thực vật học Richard Warner. Vì cây đi qua đường Cape, người Anh gọi nó là “Cape jasmine” - dù quê gốc là châu Á.
- Năm 1761, nhà thực vật học người Anh John Ellis công bố loài này. Ông nhận thấy nó không họ hàng với hoa nhài (jasmine), nên đặt tên chi Gardenia để vinh danh Alexander Garden - nhà tự nhiên học người Scotland sống ở Charleston (Mỹ). Còn chữ jasminoides nghĩa là “giống hoa nhài”, lấy từ mùi thơm và dáng hoa.
Ý nghĩa của hoa dành dành
Với màu trắng tinh khôi và hương thơm dịu ngọt, hoa dành dành tượng trưng cho sự trong sáng, thuần khiết và tình yêu dịu dàng, e ấp. Vì thế dành dành hay được dùng làm hoa cưới, gửi gắm mong ước tình yêu đôi trẻ luôn trong trẻo, bền lâu. Ở Việt Nam, dành dành cũng thường được trồng ở chùa, đình và những nơi trang nghiêm.
Công dụng của dành dành
- Làm cảnh: trồng chậu ban công, trồng bụi trước nhà, làm hàng rào thấp, bonsai; cây đẹp cả khi không có hoa.
- Ướp trà, làm vòng hoa: ở Trung Quốc, hoa dành dành được dùng ướp trà thơm; người Polynesia ở Thái Bình Dương dùng hoa thơm (trong đó có dành dành) kết vòng đeo cổ.
- Thuốc nhuộm màu vàng: quả dành dành phơi khô (chi tử) cho màu vàng tự nhiên, từ lâu được dùng nhuộm vải và tạo màu cho thực phẩm như bánh, thạch, củ cải muối.
- Trong y học cổ truyền: quả chi tử là một vị thuốc quen thuộc trong Đông y. Các bác sĩ da liễu ở Nhật đã ghi nhận ca da đổi màu xanh xám ở người dùng thuốc có chi tử lâu năm, vì vậy không tự ý dùng quả dành dành để chữa bệnh - hãy hỏi bác sĩ hoặc thầy thuốc có chuyên môn.
Quả dành dành phơi khô (chi tử) - Ảnh: Fumikas Sagisavas, CC0, Wikimedia Commons
Thạch nhuộm màu vàng bằng quả dành dành - Ảnh: Olaf8940, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Cách trồng cây dành dành
Đất trồng
Đây là điều quan trọng nhất khi trồng dành dành: cây ưa đất hơi chua (pH khoảng 5-6,5), tơi xốp, giàu mùn và thoát nước tốt. Đất kiềm hoặc nhiều vôi làm cây khó hút sắt, lá non vàng nhạt trong khi gân lá vẫn xanh.
- Trồng chậu: trộn đất thịt với xơ dừa, trấu hun, phân hữu cơ hoai (có thể thêm ít đất lá mục, phân trùn quế). Chậu phải có lỗ thoát nước. Khoảng 2-3 năm thay đất, đổi chậu một lần.
- Trồng đất: chọn chỗ cao ráo, tránh chỗ trũng đọng nước; bón lót phân hữu cơ hoai khi trồng.
Nhân giống bằng giâm cành
Giâm cành là cách nhanh và dễ nhất, cây con giữ đúng đặc điểm cây mẹ (hoa đơn hay hoa kép):
- Chọn cành bánh tẻ (không quá già, không quá non), dài khoảng 15-20 cm, khỏe, không sâu bệnh. Cắt bằng dao sắc để cành không bị dập.
- Tỉa bớt lá, chỉ giữ 2-3 lá ở ngọn. Nhúng gốc cành vào thuốc kích rễ theo đúng hướng dẫn trên bao bì.
- Cắm cành sâu khoảng 3-4 cm vào giá thể ẩm (cát trộn xơ dừa hoặc trấu), nén chặt gốc.
- Để nơi râm mát, phun sương giữ ẩm đều. Sau khoảng 3-5 tuần cành ra rễ, nảy chồi thì chuyển ra chậu.
Nhân giống bằng hạt
Lấy hạt từ quả chín, ngâm nước ấm (khoảng 2 sôi 3 lạnh) 8-12 giờ, rồi ủ trong khăn ẩm 1-2 ngày hoặc gieo thẳng vào cát ẩm, phun sương hằng ngày. Cây mọc từ hạt lâu ra hoa hơn cây giâm cành, và hạt chỉ có ở dạng hoa đơn.
Cách chăm sóc dành dành
Ánh sáng
Dành dành ưa sáng: trồng ở nơi có 4-6 giờ nắng mỗi ngày, tốt nhất là nắng buổi sáng. Mùa hè nên tránh chỗ nắng gắt cả ngày (hoặc che lưới) kẻo lá vàng, cháy mép. Trồng chỗ quá râm, dưới tán cây lớn thì cây vẫn xanh nhưng ít hoa. Nếu để trong nhà, đặt cạnh cửa sổ hoặc ban công sáng.
Nhiệt độ
Cây ra hoa đẹp nhất khi trời mát, khoảng 15-25°C. Nắng nóng kéo dài, nhất là đêm nóng, làm nụ dễ vàng rồi rụng trước khi nở. Ở miền Bắc, đợt rét đậm nên đưa chậu vào chỗ kín gió.
Tưới nước
Dành dành ưa ẩm nhưng rất sợ úng - đất ngập lâu là rễ thối, cây vàng lá rồi chết. Giữ đất ẩm đều, tưới khi mặt đất se, tưới chậm vào gốc. Mùa nắng nóng cây trồng chậu có thể cần tưới mỗi ngày, mùa mưa giãn ra. Nụ hoa rụng nhiều thường do đất lúc quá khô, lúc quá ướt.
Bón phân
Bón phân hữu cơ hoai hoặc phân tan chậm khoảng mỗi tháng một lần trong mùa cây sinh trưởng; bón thúc nhiều hơn vào cuối đông để cây đâm chồi, ra hoa vào xuân. Cây trồng đất lâu năm chỉ cần bón bổ sung mỗi năm vài lần. Nếu lá non vàng mà gân vẫn xanh, có thể đất đã bớt chua - bổ sung phân bón cho cây ưa chua hoặc chất hữu cơ như bã cà phê đã ủ, đất lá mục.
Cắt tỉa
Hoa dành dành mọc ở đầu cành và nách lá, nên cây càng nhiều cành khỏe càng nhiều hoa. Tỉa ngay sau đợt hoa rộ: bỏ hoa tàn, cành già, cành yếu sát gốc, lá úa để cây thông thoáng và ra lứa cành mới. Không tỉa đốn mạnh vào cuối năm vì dễ cắt mất mầm hoa của mùa sau.
Sâu bệnh thường gặp
Dành dành hay bị rệp sáp, rệp muội bám mặt dưới lá và chồi non, kéo theo nấm bồ hóng đen lá. Kiểm tra cây thường xuyên, lau hoặc xịt nước mạnh khi rệp mới xuất hiện; nặng thì dùng thuốc trừ rệp gốc sinh học, phun đúng liều trên nhãn.
Gợi ý đọc thêm
- Nguyệt quế: hoa trắng thơm, quả đỏ cam, nguồn gốc Nam - Đông Nam Á.
- Hoa dẻ: nguồn gốc Đông Nam Á, đặc điểm hoa thơm và quả chuỗi, ý nghĩa, cách trồng.
- Hoa ngọc bút: hoa trắng cánh xoắn thơm, nguồn gốc châu Á, phân biệt dành dành, giâm cành.
- Hương thảo: nguồn gốc, đặc điểm, làm gia vị, giâm cành, gieo hạt, chăm sóc.
